Cách khám bụng, gan, lách, thận

Cảm ứng phúc mạc do sự di chuyển của lá tạng phúc mạc bị viêm so với lá thành. Đầu tiên gõ1 cách nhẹ nhàng sau đó gõ mạnh dần. Nếu bệnh nhân.. 
Nhìn toàn thân

Tìm các dấu hiệu

Bệnh gan mạn tính:

Móng tay khum.

Móng trắng.

Bàn tay son.

Giãn mao mạch ở mặt.

Vàng da.

Sao mạch: Sao mạch: tập hợp các mao mạch cấp máu bởi 1 động mạch chính.

Nữ hóa tuyến vú.

Lạm dụng rượu: Co cơ kiểu Dupuytren; To tuyến mang tai; Teo tinh hoàn

Suy gan:

Dấu hiệu chim vỗ cánh; Hơi thở như xác chết; Lú lẫn.

Các triệu chứng của bệnh gan mạn thường rõ ràng tuy nhiên ở phụ nữ mang thai việc có tới 6 sao mạch có thể được coi là bình thường.

Thiếu máu – Quan sát kết mạc, lưỡi .

Thiếu sắt: Móng tay hình muỗng; Lưỡi nhợt.

Viêm góc miệng – có thể bắt nguồn từ việc dùng răng giả hoặc tình trạng mất răng

Thiếu B12 hoăc Folate:

Lưỡi nhợt hoặc viêm teo lưỡi

Nhìn môi:

Tái, nhợt – khám kết mạc tìm thiếu máu

Nốt tàn nhang – Hội chứng Peutz – Jeghers – Polyp ở ruột non có thể gây chảy máu, lồng ruột hoặc trở thành ác tính.

Giãn mao mạch- Hội chứng Osler – Weber – Rendu – giãn mạch máu dạ dày ruột gây chảy máu.

Nhìn miệng:

Lưỡi khô – mất nước hoặc thở miệng

Nếu bệnh nhân có biểu hiện mất nước, véo nếp da cổ. Khi bị mất nước và tuổi già, da vẫn giữ nếp.

Tím trung ương trong bệnh gan mạn tính, Shunt động-tĩnh mạch phổi.

Nhiễm Candida – lưỡi đỏ, các mảng trắng ở vòm miệng.

Viêm lợi

Loét: Bệnh Crohn , viêm loét đại tràng; Mảng loét trắng trong bệnh đại tràng.

Răng.

Hơi thở – mùi ceton, ethanol; hơi thở hôi và đái máu.

Tìm hạch thượng đòn sau khớp ức đòn trái:

Hạch cứng cảm nhận sau khớp ức đòn trái có thể là Hạch Virchow và gợi ý 1 khối ung thư trong ổ bụng di căn qua đường bạch huyết qua ống ngực.

Nhìn vùng bụng

Đặt bệnh nhân năm ngửa.

(dùng 1 gối kê đầu) 2 tay để dọc thân người.

Bộc lộ vùng bụng từ bờ dưới sườn tới bẹn.

Khi khám, việc đứng từ xa quan sát vùng bụng sẽ gây ấn tượng với người khám rằng bạn đang nhìn trước khi sờ bụng.

Nhìn

Da – Các vằn, sọc: màu hồng trong Hội chứng Cushing.

Lông.

Các u, cục , hạch.

Sẹo mổ.

Chướng -ở trung tâm hay 2 bên mạn sườn: Đối xứng hay bất đối xứng. Có thể do:

Hơi; Phân; Có thai; Mỡ.

Dịch (cổ chướng, u nang buồng trứng).

Cử động: theo hô hấp.

Nhu động ruột: có thể quan sát ở người gầy.

Ổ đập.

Thoát vị.

Tuần hoàn bàng hệ – Sự lưu thông dòng máu tĩnh mạch ở:

– Vùng phía trên: do chèn ép tĩnh mạch chủ trên

– Vùng phía dưới: do chèn ép tĩnh mạch chủ dưới

– Vùng xung quanh rốn: do tăng áp lực tĩnh mạch cửa.

Sờ bụng

Sờ vùng bẹn

Phát hiện hạch to (Nếu bạn không thực hiện ngay, bạn có thể quên không làm sau đó).

Phần lớn mọi người có hạch nhỏ và tròn, chắc. Đa số các hạch sưng to và đau bắt nguồn từ 1 nhiễm trùng ở chân và bàn chân.

Nếu hạch to hãy sờ lách 1 cách cẩn thận – có thể do ung thư lympho hoặc leukemia.

Trước khi sờ bụng

Hỏi: “ Bụng bác có đau chỗ nào không? Hãy nói nếu bác thấy đau.”

Làm âm 2 tay , để bệnh nhân nằm ngửa.

Sờ nông các phân khu vùng bụng trước, tránh các vị trí đau và nhạy cảm. Áp cả bàn tay lên vùng bụng và cảm nhận bằng các ngón tay. Sờ nhẹ nhàng.

Quan sát săc măt bênh nhân để xem bệnh nhân có cảm thấy đau khi bạn sờ bụng hay không.

Sờ sâu. Nếu không có dấu hiệu đau hãy sờ sâu hơn theo cách thức tương tự.

Đau có thể ở nông, sâu hoặc đau nảy lên.

Cảm ứng phúc mạc do sự di chuyển của lá tạng phúc mạc bị viêm so với lá thành. Đầu tiên gõ1 cách nhẹ nhàng sau đó gõ mạnh dần. Nếu bệnh nhân không đau, ấn sâu sau đó rút tay ra đột ngột.

Phản ứng thành bụng có thể cảm nhận được khi sờ bụng. Đây là sự co cứng của các cơ thành bụng để bảo vệ tạng bị tổn thương.

Co cứng thành bụng. Cơ thành bụng co cứng không tự chủ xảy ra trong viêm phúc mạc toàn thể.

Sờ các tạng trong ổ bụng

Gan

Sờ gan: các ngón tay gấp tại khớp bàn ngón, sử dụng bờ ngón trỏ sờ theo hướng song song với gan trong khi bệnh nhân thở đều và sâu. Bắt đầu sờ từ vị trí dưới bờ sườn 10 cm sau đó sờ dần lên phía xương sườn.

Mô tả vị trí của bờ dưới gan cách bờ dưới sườn mấy cm trên đường giữa đòn. Cảm nhận bề mặt khi gan to cũng như bờ gan.

Mật độ.

Bờ tù hay sắc.

Có đau hay không ?

Ố đập (trong trường hợp hở van 3 lá).

Gõ xác định giới hạn trên và dưới của gan sau khi sờ để xác định lại các phát hiện vừa làm.

Nếu không sờ thấy gan và gõ đục vùng hạ sườn phải thì gan có thể to tới vùng hạ vị ! Do vậy phải sờ thấp hơn xuống phía dưới.

Nếu gan to thì cần mô tả:

– Nếu gan to, mật độ cứng, bờ tù, ấn không đau: Ung thư?

– Nếu gan to, mật độ chắc, ấn không đau: Xơ gan? U lympho?

– Nếu gan to, bờ mặt nhẵn, ấn đau: Viêm gan? Bệnh gan rượu? Suy tim bẩm sinh?

Lách

Nếu gan to lưu ý sờ lách.

Tương tự như đối với gan, sờ từ dưới bờ sườn 10 cm rồi sờ dần lên đên xương sườn.

Dặn bệnh nhân hít sâu đây lách xuống để có thể sờ được lách.

Nếu không sờ thấy lách thì gõ xác định diện đục của lách – lách to có thể tới hạ vị.

Trong trường hợp nghi ngờ lách to ít có thể bảo bệnh nhân nằm nghiêng sang phải, tay trái nâng cao và hơi đưa ra trước và sờ lại để khám lách khi bệnh nhân hít sâu.

Kiểm tra các đặc điểm của lách:

– Vị trí.

– Hình dạng (có sờ thấy khía hay không ?).

– Không vượt quá bờ sườn.

– Di động theo hô hấp.

Gõ đục: Mô tả như đối với gan.

Thận

Sờ bằng cả 2 tay

Đẩy tay trái ra trước ở hố thận và dùng tay phải cảm nhận thận đập ra đằng trước.

Bảo bệnh nhân hít sâu để đây thận xuống giữa 2 tay.

Đau ở thận xảy ra khi có viêm nhiễm. Thận to có thể do có khối u ở thận, thận đa nang hoặc thận ứ nước.

Các khối u trong ổ bụng

Sờ 1 cách cẩn thận tất cả các vùng của bụng.

Nếu phát hiện thấy 1 khối trong ổ bụng cần mô tả:

– Vị trí.

– Kích thước.

– Hình dạng.

– Độ chắc – (Phân có thể bị nát do áp suất).

– Cố định hay di động – Khối đó có di động theo hô hấp không ?

– Có đau hay không ?

– Có đập hay không – đập theo nhịp của động mạch chủ hoặc 1 ổ đập khác.

Gõ đục – Quan trọng trong việc xác định khối đó có năm sau các quai ruột hay không ?

Khối đó có thay đổi sau khi bệnh nhân đi ngoài hoặc đi tiểu không ?

Động mạch chủ bụng

Sờ theo đường giữa trên rốn tìm ổ đập. Nếu sờ nhẹ đã cảm thấy cần nghi ngờ phình động mạch chủ bụng và tiến hành siêu âm để chẩn đoán với bệnh nhân nam trên 50 tuổi và bệnh nhân nữ trên 60.

Có thể là bình thường đối với người gầy.

Hở động mạch chủ.

Chứng phình mạch.