Cách kiểm tra trạng thái tinh thần khi khám bệnh

Tâm trạng là một trạng thái biểu lộ riêng của bệnh nhân và là đánh gíá chủ yếu thông qua việc truyền tải cảm giác trong suốt cuộc kiểm tra, mặc dù việc.. 

Kiểm tra trạng thái tinh thần cho tất cả bệnh nhân là điều rất cần thiết chứ không chỉ riêng cho những bệnh nhân có vấn đề về thần kinh. Những hướng chính là:

Cách biểu hiện và hành vi.

Tâm trạng.

Tốc độ nói- cách nói, nội dung.

Suy nghĩ-cách suy nghĩ, nội dung.

Niềm tin bất thường- những ý tưởng kì lạ và ảo tưởng.

Bất thường về nhận thức- ảo giác, ảo tưởng.

Chức năng nhận thức-tập trung, định hướng, trí nhớ, lí luận.

Điều kiện hiểu biết: sự khác biệt giữa hồi ức và việc kiểm tra không rõ ràng khi kiểm tra trạng thái rối loạn tâm thần.

Phần lớn việc kiểm tra được thực hiện bằng cách theo dõi cẩn thận trong khi khai thác tiểu sử, sau đó bổ sung thêm một số câu hỏi.

Việc khó khăn trong việc có được một tiểu sử rõ ràng hoặc bệnh nhân cảm thấy đau khổ rất quan trọng trong việc kiểm tra trạng thái tinh thần của bệnh nhân.

Quy tắc chung

Không phán xét.

Cảnh giác với sự dò xét của bệnh nhân.

Không kết luận vội vàng nếu chỉ dưa trên những lời bệnh nhân nói.

Làm rõ điều muốn biết với yêu cầu nhẹ nhàng:

“Bạn có thể cho tôi biết thêm về điều đó không?”

“Bạn có thể cho tôi một ví dụ gần đây không?”

“Điều đó xảy ra lần cuối khi nào?”

“Bạn đã làm gì khi gặp điều đó?”

“Bạn có thường/bao lâu bạn trải qua điều đó?”

Cách biểu hiện và hành vi (quan sát)

Mô tả đơn giản:

Xuất hiện trong tình trạng nhếch nhác

Hoang mang, kích động, bồn chồn, hung hăng, nước mắt, lo âu:

Thích hợp để điều chỉnh?

Gỉam hoạt động trong trầm cảm.

Hoạt động quá mức và hưng cảm.

Căng thẳng và hay lo âu.

Có thể trả lời các câu hỏi.

Bằng chứng về việc bệnh nhân có đáp ứng với ảo giác.

Có mùi rượu.

Bằng chứng của việc lạm dụng thuốc (ví dụ như có dấu kim chích)

Tâm trạng (một phần thì quan sát, một phần thì yêu cầu)

Tâm trạng là một trạng thái biểu lộ riêng của bệnh nhân và là đánh gíá chủ yếu thông qua việc truyền tải cảm giác trong suốt cuộc kiểm tra, mặc dù việc kiểm tra cho ta thêm nhiều manh mối hơn.

Hỏi:

“Tinh thần của bạn gần đây như thế nào?”

“Bạn có cảm thấy bình thường hay không?”

“Đây có phải là cảm giác bình thường của bạn?”

Trầm cảm-rối loạn trầm cảm hoặc một sự điều chỉnh phản ứng.

Mức độ cao- rối loạn hưng cảm hoặc nhiễm độc nặng( ví dụ như rượu, thuốc, cơn mê sảng…).

Lo lắng -rối loạn lo âu hoặc phản ứng với ngữ cảnh.

Giận dữ-mê sảng hoặc phản ứng với ngữ cảnh.

Buồn nản-chán nản hoặc không có mối quan hệ tốt về tình cảm tức là tâm thần phân liệt..

Bằng chứng của việc chán nản, lo lắng, dễ bị xúc động, kích động thể hiện bản chất và mức độ nghiêm trọng của bệnh:

Nếu bệnh nhân thấy chán nản, ta hỏi:

“Điều đó tồi tệ như thê nào?”

“Bạn đã từng nghĩ đến việc tự tử chưa?”

“Bạn đã nghiêm túc xem xét cuộc sống của bạn?”

Cũng nên yêu cầu y tá và người thân nhận xét thêm.

Cách nói chuyện (quan sát)

Mô tả cách nói chuyện của bệnh nhân bằng những thuật ngữ đơn giản và ghi lại nguyên văn những câu tiêu biểu.

Tốc độ:

Nhanh trong hưng cảm.

Chậm trong trầm cảm Hình thức:

Có bất thường trong việc sử dụng ngữ pháp hoặc diễn đạt không trôi chảy?-Ghi lại những ví dụ về vấn đề này.Qúa trình rối loạn suy nghĩ có thể xảy ra trong tâm thần phân liệt, hưng cảm, bệnh thực thể cấp, mất trí nhớ.

Sự xuất hiện của những chuỗi từ ngữ bất thường?

Rối loạn về logic trong bệnh tâm thần phân liệt-từ ngữ lộn xộn.

Kế nối lỏng lẻo với chủ đề đang nói-“flight of idea”

Nội dung( quan sát, chi tiết hóa với yêu cầu):

“Bạn nói bạn…, hãy cho tôi biết thêm về điều đó”

“Khi bạn thấy buồn, những gì xuất hiện trong tâm trí của bạn?”