Kỹ năng thăm khám hệ thần kinh

Việc thăm khám thần kinh có thể phải được tiến hành rất tỉ mỉ trong nhiều lần. Quan trọng hơn là bạn phải có được khả năng tiến hành thăm khám kỹ.. 

Mục đích của việc thăm khám là để trả lời ba câu hỏi: (1) Bệnh nhân có bệnh thần kinh hay không? (2) Bệnh lý nằm ở đâu trong hệ thần kinh? (3) Bệnh lý đó là gì?

Thông thường, bệnh sử có tính quyết định. Những điểm đặc trưng sau đây trong bệnh sử có thể cung cấp nhiều thông tin:

Khởi phát

đột ngột – căn nguyên mạch máu, cơ học.

trong vài giây – cơn động kinh.

trong vài phút – đau nửa đầu.

trong vài giờ – nhiễm trùng, viêm.

trong vài ngày / tuần – khối u hoặc rối loạn thoái hóa.

Thời gian

thời gian phục hồi ngắn, ví dụ như TIA ( Transient ischemic attack – cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua), động kinh, migraine, bất tỉnh.

thời gian phục hồi dài – nguyên nhân cơ học, tắc nghẽn hoặc áp lực.

mất myelin, ví dụ bệnh đa xơ cứng.

Tần suất

Mô tả của người chứng kiến – đặc biệt khi bệnh nhân có giai đoạn mất ý thức hoặc lú lẫn.

Việc thăm khám thần kinh có thể phải được tiến hành rất tỉ mỉ trong nhiều lần. Quan trọng hơn là bạn phải có được khả năng tiến hành thăm khám kỹ lưỡng nhưng tương đối nhanh chóng và tự tsin với các triệu chứng phát hiện được. Tốt nhất nên phát triển hệ thống cơ bản của riêng bạn trong việc thăm khám và thực hành nó một cách nhất quán. Điều này sẽ giúp tránh khỏi các thiếu sót.

Thay đổi việc thăm khám tương ứng với tình huống. Việc thăm khám hàng ngày là quan trọng nhưng có thể được thay đổi để phù hợp với hoàn cảnh.

Khám thần kinh được tiến hành theo các phần dưới đây:

Chức năng thần kinh cao cấp.

Các dây thần kinh sọ não.

Vận động.

Phối hợp.

Phản xạ.

Cảm giác.

Dáng đi và tư thế.

Chúng ta không thể thăm khám hệ thần kinh một cách tách biệt. Các vấn đề liên quan khác bao gồm:

cấu tạo của hộp sọ và cột sống;

cứng gáy;

màng nhĩ trong viêm tai giữa;

huyết áp;

tim, ví dụ: loạn nhịp tim, hẹp van hai lá;

động mạch cảnh – mạch và tiếng thổi;

khối u – vú, phổi, bụng;

vàng da.

Chức năng thần kinh cao cấp

Chức năng tâm thần cao cấp chỉ có thể được đánh giá thích hợp ở bệnh nhân còn lanh lợi, tỉnh táo và hợp tác. Từ bệnh sử chúng ta thường thấy rõ liệu rằng có cần thiết phải khám chức năng thần kinh cao cấp một cách chi tiết hay không. Khả năng cung cấp một bệnh sử mạch lạc cho thấy chức năng thần kinh bình thường. Một bệnh nhân đau thần kinh hông sẽ lo lắng nếu được bắt đầu khám bằng cách yêu cầu gọi tên các bộ phận của một chiếc đồng hồ. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân không thể cung cấp bệnh sử một cách mạch lạc thì khi đó việc thăm khám ý thức là cần thiết.

Quan sát chung

Dáng vẻ, ví dụ: nhếch nhác.

Hành vi, ví dụ: hoang mang, bồn chồn, kích động.

Trạng thái cảm xúc, ví dụ: chán nản, phấn khích, chống đối.

Quan sát, và khai thác thêm thông tin từ y tá và người nhà bệnh nhân.

Mức độ ý thức

Nếu bệnh nhân không hoàn toàn tỉnh táo, giữ bệnh nhân nhẹ nhàng hoặc nói to.

Thang điểm Glasgow (Glasgow Coma Scale – GCS)

Thang điểm Glasgow là một phương thức đánh giá mức độ ý thức nhanh chóng và được sử dụng rộng rãi. Kiểm soát đáp ứng với mệnh lệnh bằng lời nói hoặc là, nếu không có đáp ứng với kích thích đau, ví dụ: ấn trên ổ mắt (bằng cách ấn ngón tay cái vào lỗ trên ổ mắt), chà xát lên xương ức (các khớp đốt ngón tay trên xương sườn), ấn giường móng tay (móng tay của ngón tay cái), véo da (nhưng không để lại vết bầm tím).

Nên ghi lại phản ứng của bệnh nhân cũng như số điểm GCS.

Tính tổng số điểm theo A, B, C dưới đây. Điểm số cho mỗi tính trạng như sau:

A – Đáp ứng mở mắt

1 – Mắt luôn nhắm.

2 – Mở mắt khi kích thích đau.

3 – Mở mắt khi gọi.

4 – Mở mắt tự nhiên và chớp mắt bình thường.

B – Đáp ứng lời nói

1 – Không trả lời.

2 – Trả lời không hiểu được, chỉ rên rỉ thành tiếng.

3 – Trả lời không phù hợp – nói được từ nhưng không thành câu.

4 – Trả lời lộn xộn.

5 – Hội thoại bình thường.

C – Đáp ứng vận động

1 – Không đáp ứng.

2 – Đáp ứng phản xạ duỗi với kích thích đau – vai khép và xoay trong, khuỷu tay duỗi, cẳng tay sấp.

3 – Đáp ứng phản xạ gấp với kích thích đau.

4 – Co rụt chi lại.

5 – Định vị: cố gắng bảo vệ chỗ đau.

6 – Có ý thức: đáp ứng bình thường với mệnh lệnh.

Lú lẫn

Nếu bệnh nhân xuất hiện lú lẫn, chuyển sang đánh giá trạng thái ý thức, bao gồm cả sự mất định hướng. Hãy chắc chắn rằng bệnh nhân không tiếp nhận mất ngôn ngữ tiếp nhận thứ nhất(xem bên dưới).

Ngôn ngữ / lời nói

Đánh giá qua hội thoại:

Có khó khăn trong việc phát âm rõ ràng hay không?

Nếu cần thiết, hãy yêu cầu bệnh nhân để nói ‘Hiến pháp Anh’,

‘Đường West Register ‘.

Rối loạn tiếng nói (Dysarthria – nói ngọng)

tiểu não – đọc lướt hoặc ngắt âm;

neuron vận động bậc thấp;

liệt vòm – âm mũi;

các neuron vận động bậc cao;

chậm, “co cứng, nhìn thấy trong liệt giả hành não;

ngộ độc rượu cấp tính.

Có thay đổi giọng điệu giọng nói?

ngoại tháp (đơn điệu và chậm).

Khó nói (Dysphonia)

tổn thương dây thanh âm – nói khàn;

khó nói phân ly.